Kon Tum: Phát triển cà phê bền vững

Cà phê là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội và kim ngạch xuất khẩu hằng năm của tỉnh Kon Tum, tạo ra nguồn thu nhập chính cho người dân các huyện sinh sống trên địa bàn có lợi thế phát triển cà phê, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số trồng cà phê chè tại các xã vùng Đông Trường Sơn. Vì vậy, phát triển bền vững của ngành cà phê trong thời gian tới sẽ góp phần phát triển ổn định kinh tế xã hội của tỉnh.

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum, cà phê là một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh Kon Tum. Trong thời gian qua, tỉnh đã triển khai thực hiện các chính sách phát triển cây cà phê như chính sách phát triển cà phê chè vùng Đông Trường Sơn, chương trình tái canh cà phê, chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất của các địa phương… và đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần cải thiện đời sống cho người dân, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Đến năm 2016, toàn tỉnh đã phát triển diện tích cà phê đạt 16.607 ha, trong đó: diện tích thu hoạch 13.331 ha, năng suất 27,9 tạ/ha, sản lượng 37.147 tấn cà phê nhân. Trong đó, hình thành vùng sản xuất chuyên canh cà phê Robusta ở huyện Đăk Hà chiếm 50,42% diện tích cà phê toàn tỉnh và vùng chuyên canh cà phê Arabica các xã vùng Đông Trường Sơn ở huyện Kon Plông, Tu Mơ Rông và Đăk Glei (trừ 03 xã Đăk Môn, Đăk Long, Đăk Roong phía Nam Đăk Glei) với diện tích khoảng 2.400 ha; đặc biệt, đẩy mạnh triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng cà phê từ khâu chăm sóc, thu hái, chế biến và tiêu thụ; đồng thời UBND tỉnh đã khuyến khích nhân dân tham gia mở rộng diện tích trồng mới cây cà phê chè tại các xã vùng Đông Trường Sơn thông qua Đề án phát triển cây cà phê xứ lạnh tại các huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plong và thời gian thực hiện Đề án từ 2014-2018, trong đó năm 2014-2016 đã hỗ trợ phát triển được 659,05 ha/2.503 hộ tham gia, đạt 41,19% kế hoạch Đề án, trong đó: Diện tích trồng mới năm 2014 là 130,5 ha/511 hộ; diện tích trồng mới năm 2015 là 233,2 ha/847 hộ tham gia và diện tích trồng mới năm 2016 là 295,35 ha/1.145 hộ.

Năng suất vườn cà phê trên địa bàn tỉnh đang dần được ổn định do giá thu mua cà phê trong thời gian qua tăng, có lợi cho người sản xuất nên đã kích thích người dân yên tâm đầu tư thâm canh; việc tái canh đối với những diện tích cà phê già cỗi, sâu bệnh hại, năng suất thấp cũng được người dân triển khai thực hiện. Từ năm 2011 đến năm 2016, tỉnh Kon Tum đã trồng tái canh được 569,17 ha, đạt 21,24% Kế hoạch tái canh giai đoạn 2014-2020. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu tuyển chọn giống cà phê mới đã được quan tâm, nhiều giống cà phê Robusta đã được tuyển chọn, công nhận, sản xuất đại trà như một số dòng vô tính TR4, TR5, TR6, TR7, TR8… đã góp phần cải thiện đáng kể năng suất, sản lượng và chất lượng cây cà phê trên địa bàn tỉnh.

Năm 2016, tỉnh Kon Tum bắt đầu triển khai thực hiện Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT) với 3.300 ha cà phê canh tác bền vững, áp dụng công nghệ tiên tiến, lợi nhuận của nông dân gia tăng. Đến nay, nhiều hộ đã áp dụng kỹ thuật vào trong công tác sản xuất cà phê bền vững, cụ thể như: Đã có 60-70% số hộ thực hiện trồng cây che bóng, chắn gió trên vườn cà phê; Nhiều hộ dân đã xác định được thời điểm tưới nước lần đầu và đo được lượng nước tưới, theo hai phương pháp tưới thông thường tưới dí và tưới phun sương (tưới bép); Áp dụng các kỹ thuật tưới tiên tiến; Nhiều hộ đã tiến hành phân tích dinh dưỡng để bón phân theo nhu cầu và theo độ phì của đất để tiết kiệm chi phí bón phân từ 8 đến 10% (tương đương 500.000 đến 1 triệu đồng/ha); Phân tích mật độ tuyến trùng và thường xuyên kiểm tra vườn cà phê phát hiện sớm dịch hại.

Để phát triển cà phê bền vững trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum đã đưa ra một số giải pháp như: Tiếp tục đầu tư nghiên cứu chọn tạo, sản xuất thử nghiệm các giống cà phê năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích ứng với biến đổi khí hậu; Đẩy mạnh công tác khuyến nông đối với việc trồng tái canh cà phê, tưới nước tiết kiệm, cơ giới hoá một số khâu chăm sóc, thu hái và chế biến cà phê, nhất là khâu sơ chế, bảo quản cà phê ở nông hộ; Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường tiêu thụ cà phê; Ứng dụng chuyển giao các mô hình phát triển cà phê bền vững để phát triển thêm nhiều các tổ hợp tác thực hành sản xuất theo tiêu chuẩn châu Âu, VietGap, GlobalGap, 4C, UTZ… nhằm nâng cao chất lượng, giá trị cho sản phẩm cà phê xuất khẩu; Tăng cường kiểm soát thực hiện quy định chất lượng chế biến và vệ sinh an toàn thực phẩm; Lựa chọn các cơ sở nhân giống cà phê đủ điều kiện để nhân giống phục vụ tái canh và ghép cải tạo…/

T.H